Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

10 thg 9, 2024

VIỆT NHÂN CA

Bối cảnh

[sửa | sửa mã nguồn]
Phiên bản tiếng Trung
Văn bảnTạm dịch nghĩa tiếng ViệtBản dịch tiếng Anh của Trịnh Trương Thượng Phương
今夕何夕兮,Đêm nay là đêm nào,Oh! What night is tonight,
搴舟中流。[a]kéo thuyền trôi giữa dòng.we are rowing on the river.
今日何日兮,Hôm nay là hôm nào,Oh! What day is today,
得與王子同舟。được cùng vương tử trên thuyền.that I get to share a boat with a prince
蒙羞被好兮,Thật mắc cỡ quá,The prince's kindness makes me shy,
不訾詬恥。chẳng mắng nhiếc hổ thẹn.I take no notice of people's mocking cries
心幾頑而不絕兮,Trái tim há ương nhưng bất tuyệt,Ignorant but not uncared for,
得知王子。được biết vương tử.I made acquaintance with a prince.
山有木兮木有枝,Núi có cây và cây có cành,There are trees on the mountains and there are branches on the tree
心悅君兮君不知。trái tim rộn rã vì ngài mà ngài chẳng hay.I adore you, oh! you do not know.

12 thg 7, 2023

Bản Đồ, Ảnh Các Cổng Thành Hà Nội Thời Nhà Nguyễn

Bản Đồ, Ảnh Các Cổng Thành Hà Nội Thời Nhà Nguyễn

Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, lên ngôi vua, ấy là vua Gia Long, vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn. Gia Long chọn đóng đô ở Huế. Thăng Long sau đó được đổi thành tổng trấn Bắc Thành với 11 trấn trực thuộc. Nhà Nguyễn bấy giờ đặt quan tổng trấn Bắc Thành và trao quyền hành rất lớn, lại đặt ra các Tào, gần như cơ quan đại diện của các Bộ tại Thăng Long. Quan tổng trấn Bắc Thành được quyền tự quyết cắt đặt quan lại, bãi quan miễn chức, xét xử kiện tụng, sau khi tiến hành xong rồi mới tâu trình. Bởi vậy, quan phủ ở Thăng Long – Bắc thành bấy giờ gần như một triều đình thu nhỏ. Điều đó cho thấy, nhà Nguyễn vẫn đề cao tầm quan trọng của Thăng Long đến mức nào.

Bản đồ, ảnh các Cổng Thành Hà Nội thời nhà NguyễnBản đồ Hà Nội 1873

29 thg 5, 2019

HỒ ĐỘNG ĐÌNH VÀ BÁCH VIỆT

HỒ ĐỘNG ĐÌNH VÀ BÁCH VIỆT

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).
HỒ ĐỘNG ĐÌNH VÀ BÁCH VIỆT.
Nguyễn Xuân Quang
Xin xem trước hai bài Hồ Động Đình 1 và 2 ở phần Du Lịch viết tổng quát về hồ Động Đình.
*
Hồ Động Đình được nhắc tới nhiều trong truyền thuyết, cổ sử và văn hóa của Đại Tộc Việt.

25 thg 1, 2018

CỘI NGUỒN KINH DỊCH VÀ CÁC VẤN ĐỀ CỦA TƯƠNG LAI.


THAM LUẬN HỘI THẢO KHOA HỌC
 
***
CỘI NGUỒN KINH DỊCH VÀ CÁC VẤN ĐỀ CỦA TƯƠNG LAI.
Nguyễn Vũ Tuấn Anh.

9 thg 1, 2018

Thủy tổ người Việt thực sự ở đâu?


Một câu hỏi khác: họ từ đâu tới? Ta thấy, suốt Thời Đồ Đá, trên toàn bộ Đông Nam Á kể cả Việt Nam không có người Mongoloid. Trong khi đó, như phân tích ở trên, người Mongoloid phương Nam xuất hiện tại văn hóa Ngưỡng Thiều và Hà Mẫu Độ (cửa sông Chiết Giang) từ 7000 năm trước. Lẽ đương nhiên, họ chỉ có thể từ hai nơi này xuống Việt Nam. Nhưng do di ngôn của tổ tiên “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra,” ta hiểu, là từ Núi Thái-Trong Nguồn các vị di cư tới Việt Nam.

4 thg 1, 2018

Tết, Tiết, Nguyên Đán


Đông chí

Tiết Đông chí, theo lịch Trung Quốc cổ đại, là tiết khí khởi đầu bằng điểm giữa của mùa đông, nó là một trong hai mươi tư tiết khí trong nông lịch. Theo định nghĩa này, điểm bắt đầu của nó trùng với điểm đông chí (tiếng Anh: Winter solstice) tại Bắc Bán cầu theo quan điểm của khoa học phương Tây. Tuy nhiên, theo khoa học phương Tây thì nó là điểm bắt đầu của mùa đông tại Bắc Bán cầu và tương ứng là bắt đầu mùa hèNam bán cầu, thời điểm mà Mặt Trời xuống tới điểm thấp nhất về phía nam trên bầu trời để sau đó bắt đầu quay trở lại phía bắc.
Theo quy ước, tiết đông chí là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng ngày 21 hay 22 tháng 12 khi kết thúc tiết đại tuyết và kết thúc vào khoảng ngày 5 hay 6 tháng một trong lịch Gregory theo các múi giờ Đông Á khi tiết tiểu hàn bắt đầu.

5 thg 4, 2016

Vùng đất Bách Việt xưa như thế nào?

Trong hành trình tìm lại cội nguồn văn hóa các Việt tộc, đã có nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước, ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Từ truyền thuyết đến các Thần tích, Tộc phả được phối kiểm bởi ngành Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Nhân chủng học, Cổ nhân học, Dân tộc và Ngôn ngữ học được phối hợp kiểm chứng bởi kết quả phân tích cấu trúc phân tử di truyền DNA của các tộc người trong khu vực đủ rộng tại châu Ấ cho phép các nghiên cứu xác định tính hiện thực của cộng đồng Bách Việt (Người Việt hiện nay là sự kết hợp của tộc Âu Việt và Lạc Việt).

Khái niệm Bách Việt cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Thí dụ, Theo Từ Hải, danh xưng này là tiếng để chỉ “chỗ hỗn tạp gồm bảy tám ngàn dặm của trăm giống Việt từ Giao Chỉ đến Cối Khê, mỗi xứ đều có giòng họ riêng”. 

Hoặc Ngô Thì Sỹ: “Xét theo thiên Vũ Cống, nước Việt ở về phía nam đất Dương Châu. Theo sách Thiên Quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy độ là tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi sửu, cùng một tinh phận với nước Ngô. Cõi nam là Việt môn, có rất nhiều nước như Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt, cho nên gọi là Bách Việt. Bởi vì miền này ở phía nam Dương Châu, nên lại gọi là Nam Việt. Vùng đất từ núi Ngũ Lĩnh xuống phía nam thuộc về Nam Việt”.

 

Hoặc Đào Duy Anh thêm một số địa điểm “U Việt ở Chiết Giang, Mân Việt ở Phúc Kiến, Đông Việt ở Giang Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Lạc Việt ở An Nam”. 

Gần đây, Lăng Thuần Thanh (Ling Shun Sheng), giáo sư đại học Đài Loan, còn ghi thêm một vùng nữa cho dân Bách Việt, đó là tỉnh Hồ Nam, nơi trước kia vào thế kỷ 3 trước Công nguyên, Tam Lư Đại Phu nước Sở là Khuất Nguyên đã bị đầy tới. Trong khi bị đầy, Khuất Nguyên đã phóng tác ra Cửu Ca (trong bộ Sở từ). Và theo họ Lăng, nếu xét kỹ Cửu ca thì người ta sẽ nhận ra những hình ảnh mô tả các cuộc tế lễ tại địa phương này giống hệt hình ảnh đã được vẽ trên trống đồng Đông Sơn của dân Lạc Việt. 

Ông Lăng cũng chủ trương rằng “trước kia trung tâm đồng bằng Dương Tử là nơi cư ngụ của giống người Indonesia mà sử sách Trung Hoa gọi là Bách Việt hay Lạc Việt”.

Như vậy khái niệm Bách Việt được quan niệm khá mù mờ qua các giai đoạn và các nhà nghiên cứu khác nhau. Khái niệm Bách Việt được dùng ở đây để chỉ các cộng đồng người có địa bàn cư trú rất rộng lớn, gồm toàn bộ lưu vực phía Nam sông Hoàng Hà, tới sông Dương Tử, trải dài hết khu vực Đông Dương đến các quần đảo trên Thái Bình Dương.

Những năm gần các nghiên cứu về Việt tộc và Hán tộc của các nghà nghiên cứu trên thế giới đem lại những kết quả bất ngờ. Kết quả của khoa Phân tích Di truyền hoàn toàn phù hợp với thư tịch cổ Trung Hoa, Khoa Khảo cổ học, Nhân chủng học, Khảo tiền sử. Luận chứng khoa học mới nhất có tính thuyết phục nhất, một lần nữa khẳng định tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau. Việt tộc có yếu tố đột biến di truyền đặc biệt của châu Á trong khi Hán tộc không có yếu tố này.

Đồng thời xác định địa bàn cư trú của tộc người Malaynesian tức Malayo-Viets (Bách Việt) trải dài từ rặng Tần Lĩnh, hạ lưu sông Hoàng Hà ở Trung nguyên trải dài xuống tận vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới lưu vực phía Nam sông Hoàng Hà, phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt.

Các nhà khoa học của Viện Pháp Á gồm bác sĩ Trần Đại Sỹ, giáo sư Tarentino người Ý và giáo sư sinh vật học người Pháp Varcilla Pascale đã ứng dụng hệ thống DNA là hệ thống sinh học mới nhất cho chúng ta kết quả có tính thuyết phục nhất. 

Các nhà khoa học đã khảo sát y phục, mồ mả, răng xương trong các ngôi mộ cổ qua các thời đại cho đến hết thế kỷ thứ nhất. Sau đó dùng hệ thống DNA kiểm những bộ xương, đồng thời kiểm máu của 35 dòng họ tại Hoa Nam và Việt Nam rồi so sánh với những dòng họ khác tại Hoa Bắc đã kết luận:

1. Cư dân Hoa Nam, từ miền Nam Trường Giang xuống tới miền Trung Việt Nam, Lào,Thái đều có cùng một huyết thống, một chủng tộc. 

2. Cư dân này hoàn toàn khác biệt với cư dân Hán ở Hoa Bắc. Kết quả của những công trình khoa học có ý nghĩa lịch sử đã xác định vùng Đông Nam Á trải dài từ lưu vực song Dương Tử xuống tới lưu vực sông Hồng, sông Cửu Long mà đồng bằng châu thổ song Hồng là trung tâm nơi phát tích của nền văn minh Hòa Bình của cư dân Malaysian.

Năm 1998, giáo sư J.Y. Chu và 13 đồng nghiệp ở Đại học Texas đã phân tích 15-30 mẫu “Vi vệ tinh” DNA (microsatelltes) để thử nghiệm sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm dân từ nhiều tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, 4 nhóm dân vùng Đông Nam Á gồm 2 nhóm thổ dân châu Mỹ, một nhóm thổ dân châu Úc và một thuộc thổ dân Tân Guinea, 4 nhóm dân da trắng Caucasian và 3 nhóm dân Phi Châu. 

Kết qủa của công trình nghiên cứu bằng phương pháp phân tích thống kê có tên là “Phân tích chủng loại” (Phylogetic Analysis). Nhà bác học Chu và 13 đồng nghiệp khác tại đại học Texas Hoa Kỳ và các trường đại học và viện nghiên cứu lớn nhất ở Trung Quốc đã công bố một công trình thành công về di truyền học mang tên “Genetic Relationship of Population in China” được đăng trong Tạp chí Hàn lâm viện Khoa học Quốc gia của Hoa Kỳ (The Nation Academy of Sciences, USA, Vol.95 issue 20, ngày 29 tháng 7 năm 1998) như sau:

1. Hai nhóm dân có sự khác biệt rõ ràng nhất là Phi Châu và các dân khác không thuộc Phi Châu”.

2. Tổ tiên của các nhóm dân Đông Á ngày nay có nguồn gốc từ Đông Nam Á và Người Trung Quốc ở phía Bắc TQ có cấu trúc di truyền khác với người Trung Quốc ở phía Nam TQ”.

theo VTC.vn
http://vtc.vn/vung-dat-bach-viet-xua-nhu-the-nao.394.351192.htm
...
 ============================
  đăng bởi: hohyhung:
  http://hohyhung.blogspot.com/
 ============================

16 thg 3, 2016

Đặt Lại Vấn Đề Nguồn Gốc Dân Tộc Và Văn Minh Việt Nam

Đặt Lại Vấn Đề Nguồn Gốc Dân Tộc Và Văn Minh Việt Nam


Hỏi một người Việt bình thường về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, câu trả lời mà người ta thường nghe là tổ tiên của chúng ta xuất phát từ Trung Quốc.  Ngay cả người có kiến thức rộng, có quan tâm đến dân tộc và văn hóa Việt cũng có những ý kiến tương tự.  Đào Duy Anh, trong Việt Nam Văn hóa Sử cương;  và Trần Trọng Kim, trong Việt Nam sử lược, cũng từng cho rằng người Việt có nguồn gốc hoặc từ Trung Quốc[1] hay từ Tây Tạng [2], dù họ có chút dè dặt và thận trọng trong phát biểu.  Gần đây, một người làm chính trị nhưng có quan tâm đến văn hóa Việt Nam, Nguyễn Gia Kiểng, trong Tổ quốc ăn năn, cũng cho rằng nước Văn Lang xưa kia là do người Trung Quốc sáng lập [3] ra. 

Khám Phá Mới Di Truyền Học Về Lịch Sử Con Người Ở Đông Á


Lời nói đầu: Trong bài “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam” của Cung Đình Thanh, đăng trong Tập san Tư Tưởng số 2 đã cho thấy, từ các tư liệu nhân chủng học, khảo cổ học, một bộ phận của con người thời tiền sử ở Việt Nam (hiện nay) đã đi lên hướng Bắc vào địa phận Trung Quốc và đã cống hiến vào nền văn hoá cổ đại Trung Hoa. Xưa kia, giáo sư Joseph Needham, tác giả bộ sách “Science and Civilization in China” đã khẳng định điều đó. Nhưng có rất ít người Việt, ngay cả các nhà sử gia và khảo cổ học trong và ngoài nước, biết và tìm hiểu nghiên cứu xung quanh sự kiện đáng kể trên. Có thể, người Việt đã bao nhiêu thế kỷ chịu ảnh hưởng của văn minh Hán Hoa, ăn sâu vào cá tính và có thái độ cho rằng mình thua kém nên chỉ thu thập văn minh và văn hoá phương Bắc và không tin rằng văn hoá Trung quốc thật sự đã được đóng góp đáng kể từ các dân tộc Bách Việt ở phương Nam.

Người Tàu Là Tổ Tiên Của Người Việt Đúng Hay Sai?

Người Tàu Là Tổ Tiên Của Người Việt Đúng Hay Sai?

Nghiên cứu mới nhất công bố trên Science và lời Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi còn là một lời nhắc nhở cho những ai còn ảo tưởng rằng tổ tiên của chúng ta là người Tàu.

15 thg 2, 2016

Truy tìm gốc tích người Kinh

  Truy tìm gốc tích người Kinh



Là sắc tộc đa số, giữ vị trí trung tâm của cộng dồng dân cư Việt Nam nên từ cuối thế kỷ XIX, nguồn gốc, văn hóa, lịch sử người Kinh được các học giả nổi tiếng phương Tây bỏ nhiều công sức tìm hiểu. Sau khi giành được độc lập, các học giả người Việt trên cơ bản tiếp tục đường hướng nghiên cứu này. Hơn thế kỷ khảo cứu của nhiều lớp nhà Việt học đem lại kết quả nhất định, tạo nên cái nhìn như hôm nay. Tuy nhiên, với những khám phá mới về nguồn gốc dân tộc Việt, nhiều vấn đề về người Kinh cần được xem xét lại. Bài viết này trình bày một lý giải mới về nguồn gốc người Kinh.

14 thg 2, 2016

Chữ biểu ý Lạc Việt niên đại hơn 4000 năm !

Nguồn: http://fanzung.com/?p=483
Mạng Trung Quốc vừa đưa tin ngày 26/12/2011:
news.cntv.cn

Đại ý :
Tại huyện Bình Quả, tỉnh Quảng Tây vừa khai quật được hơn chục mảnh đá có khắc hơn ngàn ký tự biểu ý cổ Lạc Việt.
Các chuyên gia TQ nhận định niên đại của các mảnh đá này là vào thời đại đồ đá mới, cách nay 4000-6000 năm tức là vượt xa niên đại của chữ giáp cốt Hoa Hạ (cách nay khoảng 3000 năm, xem [vi.wikipedia.org]) !
Bản đồ phân bố xẻng đá lớn

16 thg 2, 2013

Thưa lại vị GS-TS đáng kính Võ Tòng Xuân


hình này do chính thằng Tây đưa lên nhân dịp TếT cổ truyền
vậy mà vị Gà Sống Thiến Sót (GS TS) lại... 


Thưa vị GS-TS đáng kính,

*** về nội dung:
"tôi viết rất rõ: “Đã đến lúc chúng ta định nghĩa lại "bản sắc dân tộc" của sự ăn Tết theo lịch Trung Quốc" vị giáo sư này không hiểu lắm về lịch ta hay bị Hán hoá mà phát biểu: "ăn Tết theo lịch TQ"??? lịch ta có mặt ở khu vực rộng lớn phù hợp với nông nghiệp trong đó có TQ

tự GS khả kính đã nói là: "Cổ Truyền" mà lại đi so sánh với Tây Lịch ??? (người Tây họ đâu có ăn "TẾT" thà nói là đóng gói TếT cổ truyền vào thư viện rồi dùng "TếT" Tây cho nó hội nhập thì còn dễ nghe chứ ai lại đi cưỡng bức cổ truyền (lịch âm, lịch ta, tất cả những cái liên quan tới "mùa xuân"..., con nước, con trăng,..., món ăm dân tộc phù hợp với âm lịch) ép qua làm theo anh Tây vào mùa Đông thì không ổn!!!

một vị "Gà Sống" chuyên về nông nghiệp mà lại không hiểu cái nôi nông nghiệp của thế giới dùng lịch gì để làm nông???


*** ý kiến riêng:
tóm lại là vị GS có thể giỏi, rất giỏi nhưng vấn đề này ngoài tầm của một cá nhân,...
thà GS nói bỏ TếT đón năm mới y lịnh mà làm, chứ đừng phân tích lòng vòng cho rắc rối vì đây là vấn đề "bản sắc - văn hoá - dân tộc"

3 thg 1, 2013

Văn minh lúa nước - Xin còn gọi tên


(Dân Việt) - Tất cả các trường phái khảo cổ, sử học của Nga, Mỹ đều thừa nhận: “Ðông Nam Á, trong đó có Việt Nam đã sở hữu một nền văn hóa tiền sử phát triển rất sớm sủa, tiên tiến và sáng tạo và sống động chưa từng thấy ở đâu trên thế giới. Đông Nam Á chính là cái nôi của nền nông nghiệp xưa nhất”.

Theo dấu văn minh cổ
Trong quyển “Agricultural Orgins and Dispersals” xuất bản tại New York năm 1952, tác giả cuốn sách, ông C.O. Sauer đã viết: “Tôi đã chứng minh Ðông Nam Á là cái nôi của nền nông nghiệp xưa nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ này. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Ðông Nam Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế giới về kỹ thuật trồng trọt và cải biến cây cối bằng cách tái sinh sản thực vật.”
Sân kho hợp tác thập niên 70 thế kỷ trước.

Người Việt với văn minh lúa nước


Trong lịch sử ăn uống dân tộc, người Việt đã hình thành một nghệ thuật ẩm thực riêng, như một phép ứng xử văn hóa trong sự tận dụng môi trường tự nhiên Việt Nam, nhằm phục vụ cho cuộc sống về thể chất của mình.

Là một dân tộc nông dân chuyên nghề trồng lúa, đã hàng nghìn năm chuyên cần, chăm chỉ cày sâu cuốc bẫm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, người Việt có một quan niệm về ăn uống rất thiết thực, bởi người Việt cho rằng: “Có thực mới vực được đạo”. “Trời đánh còn tránh miếng ăn”. “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền”…Đây là quan niệm ăn uống thuần Việt, và rất phương Đông, khác với phương Tây coi việc ăn như điều kiện cần, như phương tiện để có sức làm việc: “Ăn để sống chứ không sống để ăn”.
người Việt lấy lúa gạo làm nguồn lương thực cơ bản.
Người Việt lấy lúa gạo làm nguồn lương thực cơ bản.

3 thg 12, 2012

Hải quân Việt - Trung từng phối hợp tác chiến thời Nguyễn - Thanh


Thuyền bọc đồng thời Minh Mệnh được chạm trên Cao đỉnh - Nguồn: Covathue.com


Lịch sử ghi nhận đã từng có cuộc phối hợp hành quân giữa hải quân hai nước Việt - Trung từ thế kỷ XIX. Lúc bấy giờ bọn cướp biển Trung Quốc, Việt Nam cấu kết với nhau, thường cướp phá tại vùng biển tỉnh Quảng Ðông, Trung Quốc và duyên hài miền bắc Việt Nam. Vua Ðạo Quang nhà Thanh sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Lô Khôn chuẩn bị cuộc hành quân ; cùng thông báo cho vua Minh Mệnh nước ta, đề nghị một cuộc hành quân hợp đồng hai nước.


Với những tư liệu lịch sử còn chép lại trình bày dưới đây, có thể đánh đổ lập luận của nhà biên khảo Hàn Chấn Hoa (Trung Quốc), cho rằng thuyền của nhà Nguyễn sai đi hàng năm không thể đến được đảo Hoàng Sa (Paracel). Nói một cách rõ hơn, với tốc độ 1 ngày 1 đêm chạy được 300 km, vậy qua thời gian 3 ngày 3 đêm như Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Ðôn chép, thuyền của Việt Nam thừa sức đến được quần đảo Hoàng Sa.


Kết quả của cuộc hành quân phối hợp cho thấy, hải quân nhà Nguyễn (Việt Nam) khi đó hiệu quả và lợi hại hơn nhiều so với các chiến thuyền của nhà Thanh.


Hồ Bạch Thảo


Mục đích bài viết này không chỉ đơn thuần so sánh hơn thua về hải quân hai nước, đây là một công trình khoa học nhắm vạch ra điều sai trái của nhà biên khào Trung Quốc Hàn Chấn Hoa, trong tác phẩm Ngã quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hối biên (1). Qua tác phẩm này họ Hàn đã phủ nhận việc nhà Nguyễn nước ta từng cho quân lính hàng năm đến quần đảo Hoàng Sa tức Paracel, với lý do là thuyền của nước ta không có khả năng đến đó, và cái mà sử nước ta gọi là Hoàng Sa chỉ là đảo gần bờ như Lý Sơn mà thôi. Ông viết (2) :